Phân tích hai khổ thơ cuối của bài thơ Viếng Lăng Bác

Bác Hồ từ lâu đã trở thành bao nguồn cảm hứng cho các thi sĩ sáng tác thơ ca. Mỗi một tác giả đều có những xúc cảm riêng khi viết về Bác, là xót xa, là nuối tiếc, là tự hào, cũng là ngưỡng mộ cho một đời người vì dân, vì nước. Bằng cảm xúc chân thực, bằng ngôn ngữ gợi cảm kết hợp cùng hình ảnh quen thuộc giàu chất tạo hình thì nhà thơ Viễn Phương đã đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam một bài thơ được viết với tất cả tấm lòng thành kính biết ơn của một người con từ miền Nam ra viếng Bác lần đầu – bài thơ “Viếng Lăng Bác”. Nhà thơ Viễn Phương tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, sinh năm một ngàn chín trăm hai mươi tám và mất năm hai ngàn lẻ năm, quê ở An Giang. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Bài thơ “Viếng lăng Bác” được viết vào tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi sáu, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Bác Hồ mới được khánh thành, Viễn Phương ra Bắc thăm lăng Bác và đã viết bài thơ này. Bài thơ thuộc thể loại thơ tự do và gồm có bốn khổ, “Viếng lăng Bác” dường như đã nói lên được tấm lòng thành kính và biết ơn vô hạn của nhà thơ cũng như đồng bào miền Nam đối với vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già kính yêu của dân tộc. Đặc biệt, những tình cảm ấy lại chan chứa và dạt dào nhất ở hai khổ thơ ba và bốn.

Bức tranh thiên nhiên và con người trong bài thơ Chiều tối

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn hóa, một anh hùng dân tộc, một vị cha già của đất nước mà Người còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Người đã để lại cho đời một khối lượng thơ ca đồ sộ phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách và sâu sắc về tư tưởng. Thơ Bác vừa hay bởi cách gieo vần, vừa đẹp bởi chính hồn thơ, chính tinh thần “thép” trong thơ. Và Chiều tối là bài thơ tiêu biểu của Bác, đó là bài thơ thể hiện sự thành công khi kết hợp giữa nét cổ điển và tinh thần hiện đại.

manh dinh

Tiểu sử ca sĩ Mạnh Đình

Mạnh Đình sinh năm 1962, tên thật là Đỗ Đình Mạnh, là một ca sĩ hát dòng nhạc hải ngoại thành công với nhạc phẩm đầu tiên “Hồi chuông xóm đạo” khi là ca sĩ của Trung tâm Asia.

Phân tích khổ thơ 4 và 5 của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Trong thời kì chống Mĩ cứu nước, một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu không thể không kể đến nhà thơ Thanh Hải. Nhà thơ Thanh Hải sinh năm một ngàn chín trăm ba mươi và mất năm một ngàn chín trăm tám mươi, tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê ở Thừa Thiên – Huế. Ông bắt đầu hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp. Và vào tháng mười một năm một ngàn chín trăm tám mươi, trong những ngày cuối đời của mình ông đã sáng tác bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” khi bản thân đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng, những tâm sự, suy ngẫm. Đặc biệt hơn nữa, nhà thơ bày tỏ ước vọng được hòa nhập hiến dâng cho cuộc đời, cho mùa xuân chung của dân tộc. Tình cảm ấy được thể hiện chân thành và cảm động qua khổ bốn và năm của bài thơ.

Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Tràng giang

Nói về Thơ mới, ta không thể nào không nhớ tới lời nhận xét của nhà phê bình Hoài Thanh: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng, ta tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.” Đúng vậy, Huy Cận (một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ Mới) trước Cách Mạng Tháng 8 rất buồn, ông luôn có xu hướng “vui chung vũ trụ để nguôi sầu trần gian”. Bài thơ “Tràng Giang” – linh hồn của tập thơ “Lửa Thiêng” chính là những gì kết tinh nhất của hồn thơ Huy Cận. Khổ thơ 1 và 2 của bài thơ miêu tả bức tranh con sông buồn ảo não, qua đó bộc lộ tâm trạng của chính tác giả.